Cỏ-khỉ-vị-thuốc-nhuận-phế-mạnh-tim
Tháng Ba 27, 2020 Biên tập: admin 0

Cỏ khỉ: vị thuốc nhuận phế, mạnh tim

Cỏ khỉ, được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh với tên Mạch môn, là rễ, củ phơi hay sấy khô của cây Mạch môn đông (Ophiopogon Japonic US Wall) thuộc họ Tóc tiên (Ruscaceae). Vì lá giống lá lúa mạch, mùa đông lá vẫn xanh tươi nên được gọi là mạch đông.

Cỏ khỉ vị thuốc nhuận phế, mạnh tim

Mạch môn đông cao 10 – 40cm là loại cỏ sống lâu năm, rễ chùm, trên rễ có những chỗ phát triển thành củ. Hiện nay, cây dễ sinh trưởng, được trồng làm cảnh khắp nơi ở Việt Nam. Thường hái vào tháng 6-7 ở những cây đã được 2-3 năm. Chọn những củ già, cắt bỏ sạch rễ con, rửa sạch đất, củ to trên 6mm bổ làm đôi, củ nhỏ để nguyên phoi khổ tước bỏ lại trước khi dùng (vì lỗi gây tác dụng phiền táo, giảm tác dụng dưỡng ẩm của Mạch môn theo lý luận Đông y). Hoặc dùng móng tay rạch củ, tước bỏ lõi, rang với gạo cho đến khi gạo có màu vàng nhạt, bỏ gạo lấy mạch môn mà dùng. Củ mạch môn màu vàng nhạt, hơi trong, hình thoi dài 10-15mm.

Mùi thơm, vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, qui kinh Phế Vị Tâm. Theo Y học cổ truyền, Mạch môn có tác dụng nhuận phế, dưỡng ẩm, ích vị, sinh tân, thanh tâm trừ phiền, nhuận tràng. Rễ củ dùng chữa ho khan, viêm họng, lao phổi, nóng âm ỉ về chiều, sốt cao, khát nước, thổ huyết,hen phế quản, khó ngủ. Còn dùng để lợi tiểu và lợi sữa, điều hòa nhịp tim khỏi hồi hộp, táo bón. Ngày dùng 6-20g, dạng thuốc sắc.

Cỏ khỉ với thành phần hóa học: 5 glucosid đã được phân lập từ rễ củ, còn có stigmasterol, B-sitosterol, B-Dglucosid, các hợp chất polysaccarid, tinh dầu và các thành phần như B-patchoulen, longifolen, cyperen, o-humulen, guajol, jasmolelon. Do đó, nghiên cứu dược lý hiện đại đã mở rộng tác dụng trị liệu, cho thấy Mạch môn có hiệu quả tốt trên bệnh lý tim mạch như suy tim thiếu máu cục bộ, huyết khói tĩnh mạch… Đây là điểm Son ứng dụng Mạch môn trên lâm sàng

Một số ứng dụng lâm sàng của cỏ khỉ hiện nay:

Cỏ khỉ có tác dụng giảm ho , đặc biệt là : ho khan do tác dụng nhuận phế sinh tân: Ngày dùng 6-12g thuốc sắc với nước. Dùng riêng hay phối hợp với Lá hẹ, hoa đu đủ đực, Húng chanh, Chua me đất.Điều trị viêm họng mạn, viêm amidan mạn tính gây ho khan, đau rát họng kéo dài: Ngày dùng 15g, dạng thuốc sắc phối hợp với Rẻ quạt 12g, Bán hạ chế 6g, Gừng tươi 6g.

Điều trị tâm phiền, miệng khát, bực dọc trong người, mất ngủ, ngủ gà: Dùng Đăng tâm thảo 4g, lá tre 12g, mạch môn (bỏ lõi) 12g. Sắc uống trong ngày, uống 5-10 ngày.
Điều trị huyết khối tĩnh mạch do tác dụng bảo vệ thành mạch, chống kết dính tiểu cầu. Sử dụng trên bệnh nhân thuyên tắc tĩnh mạch chân, dự phòng ở người suy tĩnh mạch sâu chi dưới: Dùng riêng liều 20-30g/ngày, hoặc phối hợp cùng rễ nhàu, hoa hòe, đan sâm, mỗi vị 12g.

Điều trị bệnh tim thiếu máu cục bộ: Trên thực nghiệm thuốc có tác dụng tăng lưu lượng máu đến động mạch vành, bảo vệ tế bào cơ tim thiếu máu, cải thiện lực co bóp cơ tim và chống rối loạn nhịp tim, thuốc có tác dụng an thần. Mỗi lần sắc nước Mạch môn 15-20g, ngày uống 3 lần, liệu trình 3-18 tháng. Trong trường hợp suy tim có chứng hư thoát ra mồ hôi nhiều, mạch nhanh huyết áp hạ: phối hợp Nhân sâm, Ngũ vị tử, dùng bài: Sinh mạch tán (Nội ngoại thương biện hoặc luận): Mạch môn 16g, Nhân sâm hoặc Đảng sâm (lượng gấp đôi) 8g, Ngũ vị tử 6g, sắc uống, để bổ khí âm.

Điều trị những triệu chứng thiếu tân dịch (đại tiện táo bón, hư nhiệt, phiền khát) trong thời kỳ hồi phục của bệnh nhiễm trùng dùng Dưỡng chính thang: Mạch môn 12g, Ngọc trúc 20g, Hà thủ ô 16g, Đương qui 12g, Thục địa 16g, Sinh địa 12g, Hoài sơn 16g, Phục linh 8g, Nữ trinh tử 12g, Thiên hoa phấn 8g, Bạch thược 8g, Chích thảo 4g. Sắc uống.

Trị táo bón do âm hư: Dùng bài Tăng dịch thang: Mạch môn đông 20g, Sinh địa 20g, Huyền sâm 12g. Sắc uống.

Theo kinh điển, cần thận trọng khi dùng cỏ khỉ cho bệnh nhân tiêu chảy, đặc biệt đi cầu lỏng, phân sống. Chú thích: Theo “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS. Đỗ Tất Lợi, ngoài rễ của cây Mạch môn đông, ta còn dùng rễ củ phơi khô của cây tóc tiên Liriope spicata Lour cùng họ. Đó là một loại cỏ sống lâu năm, thân rễ ngắn, dày, rễ chùm lá hẹp dài mọc từ gốc, dài 30cm, rộng 4-7mm cọng mang họ thường ngắn hơn lá, hoa màu hơi tím, hợp thành xim 3-5 hoa. Quả mọng, màu xanh tím, Cùng một công dụng nhưng hiệu lực không bằng.