Một số bài thuốc từ Rau Ngổ trong việc điều trị bệnh 1
Tháng Tư 3, 2020 Biên tập: Quách Đoàn Trung Hiếu 0

Một số bài thuốc từ Rau Ngổ trong việc điều trị bệnh

Rau ngố còn có tên gọi khác là ngổ trâu, ngổ đắng, ngố đất, ngổ dại, các nước, cần nước, miền Nam thường gọi là rau ngô hoặc ngố cộng, tên khoa học Enydra fluctuans Lour, thuộc họ Cúc – Asteraceae.

Một số bài thuốc từ Rau ngổ trong việc điều trị bệnh

Mô tả:

Rau ngổ là cây thảo mộc dưới nước, sống nổi hoặc ngập nước. Lá dài, không cuống, mọc đối hay từng ba cái một; phiến hẹp, nhọn, bìa có răng thưa. Thân hình trụ nhẵn không có lông, dài hàng mét, phân càng nhiều, có mắt. Lá rau ngổ mọc đối, không cuống, phía dưới ôm vào thân, mép có răng cưa, dài khoảng 5cm, rộng 6 – 10mm. Cụm hoa hình đầu, không cuống, hoa mọc ở nách lá, hay ngọn, có màu trắng hoặc lục nhạt; 4 lá bắc hình trái xoan.

Toàn hoa ống, hoa ngoài là hoa cái hình thìa lìa, có tràng và chia 3 thùy, hoa trong lưỡng tính, hình ống có tràng hoa xẻ 5 răng. Nhị 5, bao phấn có tai nhọn và ngắn. Bầu hình trụ cong. Quả bế không màu lông. Cây ra hoa từ tháng 11 – 12 đến tháng 4 năm sau.

Một số bài thuốc từ Rau Ngổ trong việc điều trị bệnh
Một số bài thuốc từ Rau ngổ trong việc điều trị bệnh

Lưu ý:

Rau ngổ dễ bị lẫn với ngổ (Limnophila aromatica) mà miền Nam gọi là ngò om. Rau ngổ và rau om hoàn toàn khác nhau, dù hai loại rau này thoạt nhìn rất giống về hình thức nhưng phân tích và quan sát kỹ sẽ thấy khác nhau. So với ngò om, thân to cao hơn, mùi ít hăng hơn, ít tinh dầu hơn. Không dùng làm gia vị kèm theo rau mùi, húng quế trong các món canh chua như ngỏ em mà thường dùng để xào với thịt bò hay tép, ăn kèm mắm kho…

Rau ngò om thường dùng làm gia vị, lá nhỏ, cũng màu xanh nhưng sáng, dài nhất khoảng 20cm, lá có răng cưa, mọc đối hoặc trong vòng xoắn ba lá. Thân xốp có lông, thuộc họ mã đề. Mùi thơm đặc biệt không thể 80 8ảnh được với bất cứ gia vị hay thảo dược nào khác, có người cho răng rau om có mùi thơm như của oải hương, nhục đậu khấu, cà ri và thoảng chút hương chanh… Rau ngò om là một trong những gia vị truyền

thống giành cho các món ăn Châu Á có vị chua ngọt và cũng là gia vị thiết yêu trong món ăn Việt như Canh Chua, Xào lăn, Phở…

Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Enydrae Fluctuantis.

Nơi sống và thu hái:

Rau ngổ phân bố ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Việt Nam tới Indonesia. Ở nước ta cây mọc hoang trong các ao hồ, mương máng và cũng được trồng làm rau ăn sống hay nấu canh.

Tính vị, tác dụng:

Vị đắng, tính mát, mùi thơm, không độc, có tác dụng thông hoạt trung tiện, tiểu tiện, mát huyết, cầm máu.

Công dụng và chỉ định:

Người ta trồng rau ngổ lấy cành lá non thơ để nấu canh chua, cũng có thể gắng làm gia vị. Cây được dùng là thuốc chữa cảm sốt, cầm máu bằng huyết, thổ huyết, hạt dùng trị bệnh về gan mật và thần kinh. Lá nghiền đắp vào da trị phát ban, mụn rộp.

Một số kinh nghiệm trị bệnh bằng Rau ngổ:

  • Trị ho, sổ mũi: Ho, sổ mũi là triệu chứng thường gặp ở mọi ! tuôi, nhất là khi thời tiết trở lại hay là chuyển mùa. Lấy 15 – 30g rau ngô tươi, rửa sạch, sắc kỹ lây 1 uống hằng ngày.
  • Trị ho lâu ngày do viên quản mãn tính: 50g rau ng Sạch, giã nhuyễn vắt lấy nụ thêm 3 – 5 hạt muối hột sáng mới tỉnh dậy chưa đi súc miệng, liên tục 10 – 15 ngày.
  • Trị viêm tấy đau nhức: lấy 1 nắm rau ngổ tươi rửa sạch, giã nát, đắp vào nơi tổn thương rất công hiệu.
  • Ăn uống không tiêu trị đầy hơi, chướng bụng: Lấy rau ngổ 16g, nam mộc hướng 15g, nước 750ml. Sắc đến còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày.
  • Trị sỏi thận: Rau ngổ có tác dụng giúp giảm có thắt cơ trơn, lợi tiểu, giãn mạch máu, tăng lọc ở cầu thận. Từ đó làm tăng lượng nước tiểu, tạo điều kiện cho sỏi thận bị tống ra ngoài.

Cách dùng:

Lấy rau ngổ 50g, để tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, pha thêm ít muối, uống hai lần/ ngày, có thể dùng 5 – 7 ngày. Dùng riêng hoặc phối hợp với rau ngô, mã đề, cối xay, kiên trì thực hiện bài thuốc này có sẽ mang lại kết quả khá tốt.

Hoặc có thể dùng rau ngổ giã nhỏ lấy nước pha ít hạt muối, uống ngày 2 lần vào sáng và chiều (uống liền trong 7 ngày).

Hoặc có thể dùng 50 – 100g rau ngổ tươi xay làm sinh tố uống mỗi ngày (uống trong 15 – 30 ngày) hoặc nấu với 2 chén nước, sôi 20 phút để uống.

Một số bài thuốc từ Rau ngổ trong việc điều trị bệnh
  • Trị sỏi mật, sỏi thận (sỏi bùn, đá): 100g rau ngổ tươi giã nhuyễn, vắt lấy nước cốt, thêm 1 muỗng canh mật ong uống vào buổi sáng lúc đói, liên tục 10 – 15 ngày.
  • Trị tiểu ra máu: Rau ngổ 10g, có tháp bút 10g, rễ cỏ tranh 10g. Thái nhỏ, phơi khô, tẩm rượu, sao vàng rồi sắc uống làm hai lần trong ngày.
  • Trị bí trung tiện, bí tiểu: Rau ngỗ tươi 30g giã nát, cho thêm nước chín để nguội, khuấy đều, lọc lấy nước bỏ bã, pha thêm đường để uống.
  • Trị đái dầm: Rau ngô 20g, mùi tàu 20g, cỏ mần trầu 20g, có sữa lá nhổ 10g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống sau bữa ăn chiểu, dùng 3 – 4 lần.
  • Trị tê tay, tê chân: Nếu thường xuyên bị tê tay, tế chân hoặc các chi khớp, có thể lây ít rau ngổ, cho vào ấm nấu thành nước uống, sẽ bớt tê tay chân hơn rất nhiều. 
  • Tốt cho người hay ngủ mơ: Lấy 50g rau ngỔ rửa sạch, giã nhuyễn vắt lấy nước cốt, thêm vài hạt muối uống lúc sáng mới tỉnh dậy chưa đánh răng súc miệng, liên tục 10 – 15 ngày,
  • Trị ban đỏ: Rau ngủ 20g, dây vác tía 20g, Tăng bột 10g, đọt tro mở 10g, rửa sạch, thái nhỏ, sắc uống trong ngày.
  • Trị vết thương ngoài da gây mủ: Giã nát vài ba cây rau tươi, đắp lên vết thương.
  • Trị rắn cắn: Bệnh nhân bị rắn cắn sau khi khử độc, lấy 15 – 20g rau ngổ tươi, 25g kiến cò, giã nát 2 vị trên, thêm vào 20 – 30ml rượu trắng, lọc lấy nước uống. Phần bã thì đem đắp lên vết thương. Cũng có thể lấy 20 – 40g rau ngổ khô, rồi sao vàng lên, sắc lấy nước uống 4 – 5 lần liền.
  • Trị herpes: Rau ngổ tươi giã nát, chắt lấy nước cốt bôi lên tốn thương herpes mảng tròn (hoặc bệnh ngoài da); kết hợp nấu nước rau ngổ để rửa hằng ngày.
  • Trị bệnh gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ: 100g rau ngổ phơi khô sao vàng hạ thổ 1 lần, sắc 10 phút trong 100ml nước, với 50g bạc hà phơi khổ sao vàng hạ thổ 1 lần, uống liên tục 1 tháng vào buổi tối, sau khi ăn.
  • Phòng và trị bệnh ung thư: Một Số nghiên cứu hiện đại cho thấy tron rau ngổ có một số chất có hoạt tính sinh học cao, điển hình là nevadensin Thử nghiệm cho thấy chất này có thể kháng lại các tế bào ung thư, tiêu khối u, kháng viêm, kháng khuẩn.

Một số thầy thuốc đã đưa rau ngổ vào nhóm những cây có tiềm năng phòng chống ung thư, đặc biệt là ung thư dạ dày và ung thư tiền liệt tuyến. Bài thuốc được đưa ra là: 100g rau ngổ tươi, 100g lá mùng tơi non giã nhuyễn, vắt lấy nước cốt (có thể dùng cả ba lá mùng tơi cũng tốt), thêm 1 muỗng canh giấm ăn làm từ chuối uống (ăn) vào lúc 12h trưa.

  • Giải độc: Rau ngổ có tác dụng giải độc cho cơ thể, khiến cho đầu óc minh mãn sảng khoái thông suốt, trị bệnh thiếu máu, táo bón, đầy hơi không tiêu, giúp tiêu mụn bọc, mụn cám, trị gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ, đau dạ dày cấp, loét hành tá tràng. Để trị bệnh, có thể dùng 100g rau ngổ phơi khô sao vàng hạ thổ 3 lần sắc với 100g bạc hà tươi (cọng chưa tước vỏ) và 100ml nước lã trong 10 phút, uống 1 lần vào buổi sáng lúc đói tốt hơn. Uống 5 thang nghỉ 5 ngày, luân phiên cho đến khi hết bệnh, tối đa 1 tháng (3 lần tổng cộng).
  • Trị bệnh đường tiểu: Rau ngổ rất tốt cho người có vấn đề tiểu tiện không thông, tiếu rắt, viêm đường tiết niệu, đau tức vùng bụng dưới (bàng quang, vôi hóa tiền liệt tuyến, phì đại tiền liệt tuyến, đau quặn thận do sỏi thận. Có thể dùng toàn cây non của rau ngô khoảng 40 – 60g, rồi giã nhỏ hoặc vào máy xay sinh tố, chế thêm một ly nước sôi để nguội, vắt lấy nước và cho thêm ít hạt muối để uống.

Dùng rau ngổ ăn như gia vị ám – hàng ngày vừa có kích thích ăn 30n miệng lại hỗ trợ phòng bệnh.

Có thể dùng rau ngổ trong các món ăn, như làm rau sống, ăn kèm với phở, hủ tiếu hoặc nấu canh chua với cá biển, cá đồng.

Lưu ý khi sử dụng

Ngày nay việc điều trị bệnh bằng các bài thuốc thảo dược dân gian thường được người dân áp dụng một cách rộng rãi từ việc truyền miệng, vì vậy khi sử dụng cần phải có sự hướng dẫn và theo dõi của các bác sĩ tại các cơ sở Y tế uy tín, tránh tự ý sử dụng theo kinh nghiệm hay lời đồn, mách bảo của người khác. Vì nếu sử dụng không đúng sẽ không có hiệu quả, thậm chí một số thảo dược cũng có thể gây độc trên gan, thận nếu sử dụng quá liều.

  • Đối với rau ngổ, phụ nữ có thai không nên ăn nhiều vì rau ngố tác dụng giãn cơ phủ tạng có thể gây say thai.
  • Rau ngổ mọc ở nơi ẩm ướt, đầm lấy dễ bị nhiễm khuẩn nên cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến ngộ độc nếu rửa không kỹ. Vì thế, khi dùng dưới dạng tươi, do thân cây có nhiều lông tơ nên khó rửa sạch hết các vi khuẩn gây bệnh nên khi chế biến các món ăn, nhất là các món ăn sống.

Chúng ta phải rửa rau cho thật sạch, nếu có thể ngâm thêm với nước muối nhằm tránh ngộ độc thức ăn từ rau ngổ; nhúng rau ngổ vào nước sôi có nhiệt độ 40 – 45 độ C để diệt trứng sán (vì những cây sông ở đầm lầy, ao hồ, thường hay có côn trùng hoặc trắng sán bám vào thân, lá cây).

Bạn có thể quan tâm đến chủ đề